Năm 1915 (ẤT MÃO) tại khoa thi Hương ở Trường thi tỉnh Bình Định, hai người con của cố Tú Tài TRẦN HỮU NHAM đều được trúng tuyển – Anh TRẦN TRỌNG GIẢI đậu Tú Tài, em TRẦN ĐÌNH TÂN đậu Cử Nhân. Tại làng Cảnh Vân, thuộc tổng Dương An, phủ Tuy Phước. Lần đầu tiên có hai anh em ruột họ Trần đậu cùng một khoa. Thật là một việc hy hữu nên các viên chức trong làng có tặng cho 2 anh em một bức hoành phi đề 4 chữ “Huynh Đệ Đồng Khoa”.
Mừng thấy họ hàng đã có phần hưng vượng nên các bậc Tôn trưởng trong họ, theo đề nghị của Tú Tài TRẦN TRỌNG GIẢI, đã họp nhau lại bàn việc xây dựng một ngôi Đại Tôn Tự Đường để phụng sự ông bà, từ Thỉ Tổ Đại Lang TRẦN HỮU ĐỨC (Vị Tổ đầu tiên khai sáng dòng họ Trần và lập nghiệp tại làng Cảnh Vân) di hậu.
Thể theo ý kiến của họ hàng, ông TRẦN ĐÌNH TÂN với tư cách là Cử Nhân đầu tiên của họ đứng ra đề xướng việc thành lập Đại Tôn Tự Đường và đứng đơn xin phép Chính Quyền thời bấy giờ. Sau khi được phép của tỉnh tòa Bình Định, tháng 9 cùng năm (Ất Mão) bắt đầu khởi công xây cất.
Ban tu tạo lúc bấy giờ gồm có:
Chánh khởi xướng : Cử Nhân TRÂN ĐÌNH TÂN
Phó khởi xướng : TRẦN HỮU NGHIÊM (Trần Cương)
Quản đốc Tu tạo : TRẦN TRỌNG GIẢI
Phó Quản đốc : TRẦN HỮU ĐẮC
Chánh Đốc công : TRẦN VÕ
Phó Đốc công : TRẦN THIỆU THUẬT
Và một số đông các vị thuộc đời thứ 7 và đời thứ 8 có uy tín và có tên tuổi trong họ.
![]() |
Bức hoành bằng gỗ ghi tên họ các vị trong Ban Tu Tạo Tự sở treo ở gian hữu Chánh điện
Ngôi nhà Tự Đường này tọa lạc trên một khoảnh đất thuộc sở Vân Hội, thôn Cảnh Vân do ông TRẦN DỊCH (thường gọi là ông Háo), một nhà hào phú trong họ vui vẻ hiến cúng (Hiện giấy tờ hiến cúng còn lưu giữ tại Ban Quản Trị).
Tòa nhà được cất theo hình chữ môn. Chính điện là một ngôi nhà mái ba gian hai chái rất khang trang. Hai bên Đông và Tây là hai ngôi nhà mái một gian đối diện nhau và cách nhau bằng một cái sân cỏ rất rộng
Tự sở hướng mặt về phía Đông nam. Trước cổng là một con voi phục bằng vôi kích thước to gần bằng con voi thực thụ. Voi này, hằng năm, dùng để cắm một lá cờ vuông thêu 4 chữ TRẦN TỘC TỰ ĐƯỜNG, mỗi khi có Lễ Lộc Tế Tự.

Cổng trước của Trần Tộc Đại Tôn Tự Đường
Cổng vào được xây bằng vôi rất kiên cố. Trên cổng có đắp “lưỡng long tranh châu” và có đề 4 chữ nổi “TRẦN TỰ ĐƯỜNG MÔN”
Hai trụ cổng mặt trước có một câu đối 5 chữ:
NHẬP MÔN THỦ LUÂN LÝ
TẠI HẠ TÚC HỘ TRÌ
(Vào cửa giữ luân lý, vô nhà được chở che)

Mặt sau cổng, trên có 4 chữ “NHẤT MÔN TRUNG HIẾU“.
Từ trong Chính điện nhìn ra, bốn chữ “Nhất Môn Trung Hiếu dán vào mắt của mọi người và như nhắn nhủ con cháu họ Trần là để khỏi điếm nhục Tố tiên hãy khuyên bảo nhau, cố noi gương các bậc tiền liệt là phải “Trung với dân tộc và hiếu với ông bà” bất cứ cảnh ngộ nào, thời đại nào cũng vậy. Đó phải chăng là khuôn vàng thước ngọc cho đàn hậu duệ cố thực hiện cho kỳ được.
Bên trong và cách cửa ngõ khoảng 3 mét, có xây một tấm bình phong. Mặt trước bình phong có tô một con lân và mặt sau bình phong có đắp một con rùa. Trên lưng rùa có ghi bài “TỰ” do cố Đãi chiếu Tú Tài TRẦN TRỌNG GIẢI kính đề.
Vì lâu ngày rêu phong phủ bám nên không đọc được đầy đủ bài TỰ này.
Mặt sau cổng ngõ Đại Tôn Tự Đường
Cách bình phong mỗi bên khoảng 2 thước, có xây 2 trụ biểu đồ sộ. Bên trên 2 trụ biểu là 2 con lân đối diện nhau, ngẩng mặt ra phía trước. Mặt trước 2 trụ biểu có khắc một câu đối:
TRUNG THIÊN BỈNH YẾT CƯƠNG THƯỜNG ĐÍCH
ĐẠC ĐỊA QUANG HỒI NHẠC ĐỘC LINH
Tạm dịch: GIỮA TRỜI SÁNG CHÓI NGHĨA CƯƠNG THƯỜNG
ĐẤT QUÝ NƯỚC HỒI NGOI TƯỚC RẠNG.
Ngôi Tự Đường Đại Tôn lúc còn lợp bằng tranh
Ảnh chớp năm 1938
Mặt trước Tự Đường có xây tường cao 1,20 m, chạy từ hai bên cổng chính đến giáp vách sau của 2 ngôi nhà Đông Tây. Trong 9 năm chiến tranh chống Pháp, để thực hiện chính sách tiêu thổ, bức tường này bị đập nát. Vào các năm đầu của chế độ trước, đã xây lại nhưng chỉ cao có 5 tấc. Gần đây, hạ bán niên 1994, bức tường này đã xây lại cả mặt trước và mặt sau cao 1,20m. Thế là từ đây tự sở đã có khuôn viên rành mạch. Vào năm 1990, Ban Quản Trị cũng đã cố gắng làm 2 cổng bằng sắt.
Cũng vào những năm kháng chiến chống Pháp, để thanh thu thuế nông nghiệp. Tự đường lại phải bán đi ngôi nhà Tây, chỉ còn lại cái nền đất. Tuy vậy, Ban Quản Trị lúc bấy giờ cũng cố gắng cho mướn một số tự điền để mua gỗ và ngói của nhà ga Cảnh Vân lúc bây giờ bị phá hoại để chuẩn bị, nếu có thể lợp ngói lại ngôi chính diện.
Mùa hạ năm 1951, để tránh dột nát, mặc dù trong hoàn cảnh kháng chiến của đất nước Tự Đường cũng cố gắng lợp ngói ngôi chánh điện, còn nhà Đông thì phải dỡ đi vì không đủ sức duy trì mãi được.
Vào năm 1971, để có chỗ dung túng rộng rãi, và để dần dần tu bổ và chỉnh trang tự sở, cụ Thương Tá TRẦN ĐÌNH TÂN đã phái hai ông TRẦN BÙI THAO và TRẦN HỮU ÍCH đi quyên góp các nhà hằng tâm hằng sản trong họ để cất lại ngôi nhà Đông bằng ngói và đến năm 1983, thời chánh Chủ Tự TRẦN BÙI THAO, một lần nữa, cũng đã quyên góp bà con để cất lại bằng ngói ngôi nhà Tây.
Thế là đến năm 1984, tự sở lại trở lại hình chữ môn với chính điện và hai nhà Đông Tây đều bằng ngói tuy không lộng lẫy nhưng rất khang trang, tuy không dám nói là trường cửu, nhưng cũng có thể chịu đựng trước sự tàn phá của nắng mưa đến năm bảy thế hệ nữa.
Năm 1992, do TRẦN HỮU ÍCH tài trợ, trên nóc Chính điện đã đắp “Lưỡng long Triều nguyệt” và 4 con giao ở 4 góc, tạo thêm vẻ mỹ quan cho tự sở.
Mặt tiền Chính điện là một cửa song khai bằng gỗ rộng 1,20m. Hai bên cửa chính này là 2 bức “Bàn khoa” 3 tấm có chạy hồi văn và chạm trổ đơn sơ. Cạnh hai bức Bàn khoa là 2 cửa lớn 1 cánh. Ngày thường tộc viên muốn vào Chính điện phải vào hai cửa lớn này. Chỉ đến những ngày tế tự mới mở cửa chính và hai bức “Bàn khoa” cho được sáng sủa và rộng rãi. Đối diện với cửa chính và bên trên “hàng ba” tô vôi có bấm 3 chữ “Trần Tự Đường” và hai bên có hai câu đối:
Quyển lý hữu thi giai cẩm tú.
Thế gian vô giá thị văn chương.
Tạm dịch: Trong sách có thơ nên gấm vóc.
Trên đời vô giá chính văn chương
(Hai câu này hàm ý “khuyến học” mong muốn con cháu trau dồi kiến thức, học tập thành tài, nên người hữu dụng).
Ngôi Đại tôn Tự Đường đã chỉnh trang lại. Ảnh chup năm 1994
Bên trong chính điện, tại hai cột hàng nhứt chính giữa phía trước, có hai câu liễn do Phó bảng, Thượng thư trí sự Biểu Xuyên ĐÀO PHAN DUÂN viết tặng:
Linh sảng tự thiên thu, Mậu đới huân cao chiêm tụy tụ
Triệu bồi lai nhứt mạch, thịnh truyền phiên diễn ngưỡng phong di.
(Tạm dịch ý:
– Linh sảng tự ngàn xưa, nay đứng trước sự nghiệp tốt đẹp ta đã trai giới cho thân tâm tinh khiết mà chiêm ngưỡng anh linh tiên liệt được thờ đủ ở nơi này.
– Các vị trước đã tài bồi nên dòng giống truyền đến nay được thịnh vượng khiến ta lấy làm ngưỡng mộ ân đức của các ngài).
Sau câu liễn của cụ Biểu Xuyên là hai hàng lỗ bộ dựng trên 2 giá chạm rồng. Giữa 2 hàng lỗ bộ là chiếc án Hội đồng. Trên án có thiết lư đồng, đèn gỗ, lọ hoa rất nghiêm chỉnh.
Trên án thờ Hội Đồng là chiếc khảm chạm trổ tinh vi để thờ Đức Quan Thánh Đế Quân và Đức Hưng Đạo Đại Vương. Trước khám bên ta có dựng cây yểm nguyệt long dao bằng gỗ và bên hữu là cái chuông để dóng lên mỗi lần có lễ bái hai Đức Thánh.
Bên trong án thờ Hội đồng là cái bàn nhỏ, trên bàn trưng bày 3 pho tượng Phước Lộc Thọ bằng sứ.
Tại hai cây cột hàng nhứt, sau giá lỗ bộ, treo hai câu liễn cẩn xà cừ có khắc câu đối thờ:
Chiêu mục nhất đường tinh sảng tu.
Chúng thường vạn tự gián quỳnh hương.
(Tạm dịch: Hòa ái một nhà gồm lại nét sáng lạn tinh tế.
Thờ phụng tế tự tại đây còn mãi mãi đến muôn đời).
Sau 3 pho tượng Phước Lộc Thọ là bàn thờ chính thờ Thỉ Tổ đến các Tổ đời thứ tư.
| Tại vách chính điện có đề chữ Thọ và hai bên có 2 câu đối thờ: Tổ công tông đức bách thế bất thiên. Hiếu tử từ tôn vạn đại như kiến (Tạm dịch: Công tổ, đức tông ngàn đời không đổi. Cháu hiền, con hiếu muôn thuở chẳng dời). Trước chữ Thọ có treo tấm gia phả nền trắng, viền đỏ ghi tên họ từ Thỉ Tổ Đại lang đến các vị Tổ đời thứ tư bằng chữ nho có âm chữ quốc ngữ. | |
| Bàn Thờ Tổ ở Chính Điện |
Bàn thờ chính thật là thâm nghiêm. Ngoài Bình phong. Tam sơn cẩn xà cừ óng ánh còn có bộ ngũ sự bằng đồng sáng choang. Bên trong bộ ngũ sự là cặp hạc bằng gỗ sơn son thiếp vàng óng ả. Từ xa nhìn vào, ta thấy rất trang nghiêm và trân trọng.
Gian bên tả là bàn thờ các bậc tiên liệt từ các vị Tổ đời thứ năm trở xuống.
Tại vách sau bàn thờ có đề chữ Phước và câu đối thờ:
Xuân lộ thu sương ký nhu ký giáng.
Giảng mao hoàng thủy dĩ tự dĩ yên.
(Tạm dịch: Móc xuân, sương thu dã thấm dã rơi.
Rau khe, nước suối dùng cúng, dùng lễ).
Trên đà ngang trước bàn thờ có treo bức hoành gỗ ghi tên họ các vị sáng lập và tu tạo Đại Tôn Tự Đường. Gian bên phải là thờ các vị phát khoa và văn võ phát quan.
| Tại vách sau án thờ đề chữ Lộc và câu đối thờ: Tự sự không minh dĩ thõa dĩ hựu. Hiếu tư duy tắc bất khiên bất vong. (Tạm dịch: Tế tự thì rõ có phù có hộ. Báo hiếu ắt phải không đỗi không quên) Trên đà ngang trước bàn thờ cũng có treo bức hoành gỗ ghi công đức các vị có cúng tiền – túc để tạo lập tự sở. Ở chái Đông có bàn thờ hậu (tức là thờ các vị tuyệt tự trước đây có cúng ruộng đất, tiền bạc để lập hậu tại tự sở.) | |
| Bàn Thờ phát khoa và văn võ phát quan |
Tại vách sau bàn thờ có đề chữ ĐÔNG và câu đối:
Truy viễn vĩnh hoài sương lộ cảm.
Phụng tiên ân tiến tảo tần hương.( ân tiển nên đổi thành ân hiển)
(Tạm dịch: Dõi xa nhớ mãi sương thu cảm, Theo trước ân cần lễ vật dâng).
Và ở chái tây cũng có bàn thờ để phụng sự các bậc quá cố có danh không vị, có vị không danh của họ Trần từ Thỉ Tổ đến nay.
Tại vách sau bàn thờ có đề chữ Tây và câu đối:
Hương hỏa bách niên trường phối hưởng
Chủng thường vạn đại hiến trân tu
(Tạm dịch: Hương lửa trăm năm dài cùng phối hưởng. Chúng thường muôn thuở hiến đồ ngon).
Bốn án thờ, hai bên án chính, cũng đều có bình phong, Tam sơn hoặc bằng gỗ cẩn xà cừ hoặc bằng gỗ sơn son thiếp bạc và đồ Tam sự bằng đồng để thờ một cách giản dị nhưng trang nghiêm.
Hai cột hàng nhứt bên tả và bên hữu cùng dãy với câu đối thờ có treo câu liễn “Nhất thi Nhất họa” cẩn xà cừ do ông Trần Mỹ Thạnh dâng tặng.
Đối diện với bàn thờ chính, trên cửa song khai có bức hoành phi sơn son thiếp vàng khắc 4 chữ Trần Tộc Tự Đường do cụ bà Tú cả Lê Thị Tâm và em dâu bà là bà Thủ chỉ Nguyễn Thị Thại phụng cúng vào năm 1916.
Dọc theo cột hàng nhứt ở hai bên bàn thờ chính có treo 3 tấm Phổ hệ bằng vải ghi tên tuổi ông bà con cháu từ đời thứ năm cho đến đời thứ mười. Ngày nay, qua nhiều năm tháng, ba tấm phổ hệ này đã ố, đã cũ nhưng là di bảo quý báu nhất của dòng họ.
Như trên đã trình bày, nhà Tây khi cất ngói lại vào năm 1983, dùng làm nhà khách để đón tiếp họ hàng vào những ngày lễ hội và nhà Đông, cất ngói lại vào năm 1971, dùng làm nơi đãi đằng khách hộ và bà con họ hàng. Năm 1990, Tự Đường đã nối dài nhà Đông 2 căn nữa về phía sau để dùng làm nhà bếp rộng rãi và thông thoáng.
Sau nhà Đông là cái giếng xây bằng đá ong. Giếng này đã tô bệ và xây nền bằng ciment vào năm 1994 cùng một lúc với bờ thành sau của Tự sở. Cho đến nay, tư khí, tư vật đã tạm đủ dùng mỗi khi có lễ lộc tế tự.
Nói chung, qua bao bước thăng trầm. Tám mươi năm nay,Tự Đường Đại Tôn vẫn còn tồn tại và lại được ngày càng chỉnh trang cho đẹp đẽ và nghiêm chỉnh hơn xưa.
Đây là nơi, mà họ hàng, con cháu ở gần hoặc ở xa vạn dậm đều hướng về thờ phụng Tổ Tiên và sum vầy tộc thuộc.
Đúng như lời của cố Đãi Chiếu Tú Tài TRẦN TRỌNG GIẢI đã viết trong bài Hiểu Cáo, Tự Đường là nơi:
“Vun nền hiếu kính để dành hậu lai”
Hậu Duệ chúng ta hãy tâm niệm là phải đem toàn tâm toàn ý vun đắp cho Đại Tôn Tự Đường cả về tinh thần lẫn vật chất.
Xin Tổ Tiên phù hộ chúng ta để chúng ta từ đời này qua đời khác cố gắng giữ gìn cho tự sở trường tồn với không gian và thời gian.
Cổ nhân có câu “Sáng lập nan, thủ thành bất dị” nhiệm vụ Thủ Thành là của lớp con cháu chúng ta từ đây về sau.
BAN TU PHỔ

Bình luận về bài viết này