Gương sáng Cần Vương

TIỂU SỬ ÔNG TRẦN HỮU TRINH

Tức TRẦN HỮU NHAM – Tục gọi ÔNG TÚ CẢ

TÚ TÀI HÁN HỌC

TÁN TƯƠNG QUÂN  VỤ CỦA NGHĨA BINH MAI XUÂN THƯỞNG

ĐỜI THỨ 7 – CHI NHẤT B

Ông là TRẦN HỮU TRINH tự TRẦN HỮU NHAM hiệu Tường Trai khi chết có Thụy hiệu là CẢNH DƯƠNG PHỦ QUÂN.

Sinh năm Bính Thìn – 1856 (Tự Đức thứ 9)- Thất lộc ngày 25 – 6 năm Canh Tuất (1910 – Duy Tân thứ 4), hưởng thọ 55 tuổi. Mộ phần hiện ở đám Mả Ông, xóm Vân Tập làng Cảnh Vân – Mộ Ông ở phía phải mộ thân phụ người (mộ giữa), phía trái là mộ người em út TRẦN HỮU CHỈ.

Ông đỗ Tú Tài năm Nhâm Ngọ (1882), là con thứ 3 của Đệ Lục Đại Tổ Kỳ Lão TRẦN HỮU MÃI (tức Phong). Anh cả của ông là TRẦN HỮU TRIỀU và chị của ông là TRẦN THỊ TRONG đều tảo vong nên ông thành Trưởng nam, người làng đều gọi là ông Tú cả.

Ông lấy vợ ở làng Luật Lễ, tổng Dương An (Sau là tổng An Định), huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, bà tên là LÊ THỊ TÂM.

Là một sĩ phu yêu nước, trước sự xâm lăng của Pháp, ông đã tham gia phong trào Văn Thân trong Hương Sơn quân thứ của Mai Xuân Thưởng – Ông được cử làm Tán Tương Quân Vụ cùng với Đốc binh HUỲNH TRƯNG (Vân Tường, Cảnh Vân) và ông Thống binh Trương Bin (Vân Sơn – Cảnh Vân) để kháng Pháp tại địa phương.

Hoạt động của các ông ở vùng này là tổ chức, xây dựng lực lượng, quyên góp tiền của và sắt đồng, rèn đúc vũ khí, tập dượt nghĩa binh chuẩn bị chiến đấu với địch.

Thi hành “lệnh Bình Tây Sát Tả”, ông chưa vội giết người Thiên Chúa Giáo, mà tập trung họ lại một nơi gọi là “khu cấm cố”, chờ khi thắng giặc Tây Dương sẽ có biện pháp thích ứng đối với họ (hiện nay chỗ ông dồn tín đồ Thiên Chúa Giáo còn gọi là đám cấm cố).

Những người già lớp trước, như ông NGUYỄN TIẾN (người thôn Thăng Bình đã chết cách đây 55 năm) kể lại trận đánh giặc Pháp của Nghĩa quân do Đốc binh HUỲNH TRƯNG tại bến Cuốc, gần Cầu Sông Ngang, cách Qui Nhơn 07 km. Nghĩa quân dùng bồ nang nhồi rơm nhào với bùn, lăn theo đường đỡ đạn. Nghĩa quân còn dùng trái mù u rải dọc theo lối đi cho Tây trượt ngã, chận bước tiến của địch.

Trận này Nghĩa quân bị bại, nhưng cũng bắt được một tên Pháp đem về xử tội, moi gan cắt từng mảnh, chia cho các quân thứ, tế chiến sĩ trận vong, khơi sâu chí căm thù.

Về sau, phong trào Văn Thân của Mai Xuân Thưởng bị tan rã. Ông Đốc binh TRƯNG bị bắt giết. Phần ông trốn tránh vào Đa Lộc. Vì thân cô, thế cô, ông trở về cố hương, tại đây ông bị bắt giam.

Nhờ việc ông chỉ nhốt và chưa giết, nên số người Thiên Chúa Giáo địa phương, sau khi được tự do, đã cảm kích về hành động của ông, xin cho ông được phóng thích.

Từ đó ông sống với ruộng vườn, dạy dỗ con cái, cùng với người em kề là TRẦN HỮU DƯỢT, vỡ ruộng đắp cừ ở xứ Động Đình. Ông không hề tiếp xúc với bọn thống trị và quan trường. Triều Đình có nhiều đổi thay nhưng ông không cần biết, chỉ biết có vua Hàm Nghi và dùng niên hiệu Hàm Nghi liên tiếp nhiều năm cho đến khi từ trần (1910).

Ông là một người con hiếu thuận, một người anh cả, rất mực thương yêu dìu dắt em út, một người cha nghiêm từ.

Ông răn dạy con cháu lòng yêu nước thương nòi.

Trước giờ lâm chung, ông còn di ngôn cho con cháu như sau:

Ngô bịnh kịch hĩ

” Ách tại đán tịch

” Ngô gia đa sự

” Nan dĩ mai cử

” Di vọng nhĩ tào

” Huynh tất ái kỳ đệ, đệ tất kính kỳ huynh”.

Tứ túc hĩ (Ngôn ký như tốt, tạc bình trung, truyền vi gia bảo vân).

Thứ nam của ông là Đãi chiếu Tú Tài TRẦN TRỌNG GIẢI đã dịch quốc âm như sau:

” Xưa Nghiêm phụ đến khi thất lộc

” Có mấy câu di chúc cùng con

” Rằng cha bệnh ngặt hao mòn

” Mai chiều này ắt chẳng còn thấy nhau

” Việc nhà tính về sau phương liện

” Hơi đâu mà nghĩ chuyện lâu xa

” Những mong con cháu trong nhà

” Anh em ăn ở thuận hòa là yên

” Nói rồi phút non Tiên thoát hóa

“Mấy lời còn vàng đá tri tri

” Bình phong kính tạc một khi

” Truyền làm gia bửu để ghi đời đời”.

Sau đây là một bài thơ bằng chữ Hán của cụ Tú cả đã biểu lộ tấm lòng “Ưu Quốc” của mình.

Hạn thi

Thiên thời sắc vũ cửu triêm nhu

Hạn bạt vi tai biến cửu khu

Hách hách viêm chưng chu thảo hãn

Trùng trùng ngược diễm Tống miêu khô

Nhân như chấp nhiệt tu băng tĩnh

Ngã dục thừa phong khấu ngọc hồ

Thảng sử thương lâm tùy xứ phổ

Vân nghệ vọng úy khanh lai tô

Tạm dịch:

Thơ Hạn

– Trời keo kiệt không chịu cho mưa xuống để đất đai được thấm ướt lâu dài.

– Nhiến thần nắng hoành hành gieo tai họa khắp chín khu.

– Cái nóng như nung nấu hừng hực làm cho cả trên đất nhà Chu lúa úa như bị sấy.

– Ánh sáng chói chang chồng chất khiến lúa non trên đất nhà Tống phải khô héo.

– Người như muốn giải nhiệt ước gì có giếng nước đóng băng.

– Ta muốn cưỡi gió vừa đi vừa gõ vào cái bầu bằng ngọc.

– Ví như được trời mưa dầm dề khắp nơi.

– Vạn vật hồi sinh mừng cho bò lúc trông mây, trông mống.

Lạm bình: Qua bài Hạn thi của ông Tú cả, ta thấy ông muốn mượn ý về Trời hạn để nói lên Nước nhà bị thực dân Pháp đặt nền thống trị và bày tỏ tâm trạng và hoài bão của mình một thủ lãnh Cần Vương bất đắc chí.

Hai câu đề tác giả ngụ ý cho biết đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, gieo rắc tai họa khắp nơi.

Hai câu trạng, tác giả nói lên tình cảnh dân ta bị áp bức, đè nén một cách thảm khốc dưới ách thống trị tàn ngược của ngoại bang.

Tâm trạng thương nước yêu nòi của tác giả được ngụ tả ở hai câu luận (câu 5 và 6). Ông muốn bày tỏ cho người đời biết là mình vẫn còn giữ vẹn “một tâm hồn trong trắng” và mong muốn đất nước được giải phóng và chính mình muốn thừa cơ hội này tham gia để thực hiện hoài bão của mình.

Ở hai câu kết, ông mong mỏi đất nước hồi sinh, nền tự chủ được khôi phục, Vua Hàm Nghi – vị Minh Chủ của ông được trở lại ngôi tôn.

Thật nỗi lòng của tác giả gửi gắm qua bài “Hạn thi” cao đẹp biết chừng nào.

BAN TU PHỔ

Chú thích:

Bạt: Thần nắng. Hạn là vì nắng gắt không mưa nên “Thần nắng” cùng là “Thần hạn”

Chu: Một triều đại cổ của Trung Hoa

Tống: Một nước chư hầu thời nhà Chu (địa phận 2 tỉnh Giang Tô và Hà Nam sau này.

Ngọc hồ: Cái bầu làm bằng ngọc trong suốt, khởi hứng từ một câu trong Đường thi: Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ: một tâm hồn trong trắng như băng được chứa trong cái bầu làm bằng ngọc.

Bài thi này được Lộc Xuyên Đặng Quý Địch dịch:

Trời sao nỡ hẹp lượng triêm nhu

Thần Hạn gieo tai khắp chín khu

Hùng hực nóng nung Chu cỏ úa

Chói chang nắng ngược Tống cây khô

Người mong giải nhiệt mơ băng giếng

Ta ước thừa phong gõ ngọc hồ

Ví được dầm dề mưa khắp xứ

Cỏ cây sống lại thỏa trông chờ

Lộc Xuyên Đặng Quý Địch

Thông tin về dòng họ

Con cháu thuộc Trần tộc Mạnh phái Cảnh Vân có thể cung cấp thông tin về cho Ban Quản trị để cập nhật phả hệ, bài viết hay để lưu giữ cho các đời sau.

Đăng ký thành viên

Nhập email liên lạc đăng kí thành viên

Bình luận về bài viết này

Bài viết liên quan

  • Gương sáng Cần Vương

    Gương sáng Cần Vương

    TIỂU SỬ ÔNG TRẦN HỮU TRINH Tức TRẦN HỮU NHAM – Tục gọi ÔNG TÚ CẢ TÚ TÀI HÁN HỌC TÁN TƯƠNG QUÂN  VỤ CỦA…