By

Published on

Thơ cụ Hà Trì

憶 家 先 嚴 感 作

悠 悠 瞻 父 白 雲 鄉

曲 曲 江 流 曲 曲 腸

午 歲 秋 圍 登 乙 榜

戌 年 夏 季 上 天 堂

辭 官 不 做 留 兒 做

享 壽 無 長 遺 子 長

蘭 桂 傳 香 碑 葉 語

容 容 後 福 永 流 芳

Phiên âm :

        Ức gia tiên nghiêm cảm tác

Du du chiêm phụ bạch vân hương,

Khúc khúc giang lưu, khúc khúc trường.

Ngọ tuế thu vi đăng ất bảng,

Tuất niên hạ quí thượng thiên đường.

Từ quan bất tố lưu nhi tố,

Hưởng thọ vô trường di tử trường.

Lan quế truyền hương bi diệp ngữ,

Dung dung hậu phúc vĩnh lưu phương.

Dịch nghĩa :

                        Cảm tác khi nhớ cha đã qua đời

Trông làn mây trắng mà lòng man mác nhớ cha 1,

Trông sông chảy từng khúc từng khúc mà ruột đau từng đoạn từng đoạn.

Nhớ cha năm Ngọ đỗ Tú tài vào mùa Thu 2,

Cuối mùa Hè năm Tuất thì về trời 3.

Cha không làm quan, để quan lại cho con làm,

Cha sống không lâu, để tuổi lại cho con sống lâu 4.

Danh tiếng của cha thơm lừng như hương hoa lan hoa quế truyền từ đời nọ sang đời kia,

Phước ấm của cha để lại cho con cháu dần dần thấm mãi, thơm mãi về sau5.

Chú thích : 1. Chiêm phụ : Trông cha. Kinh Thi : Trắc bỉ hỗ hề, Chiêm vọng phụ hề ! = Trèo lên núi đất không cây chừ, trông ngóng cha ta chừ !

            Bạch vân hương : làng mây trắng. Theo Đường thư, Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm chức Tham quân ở Tinh châu mà mẹ thì ở Hà Dương. Một hôm ông lên núi Thái Hàng, thấy có đám mây trắng bay xa xa, ông bảo kẻ tùy tùng rằng : “Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng ấy !”

2. Người cha đang nói ở đây tên Trần Hữu Nham, đỗ Tú tài khoa Nhâm Ngọ (1882) đời Tự Đức.

3. Ông cụ qua đời ngày 25 tháng 6 năm Canh Tuất (1910).

4. Ông cụ sinh năm 1856 mất năm 1910, thọ 54 tuổi tây tức 55 tuổi âm. Tác giả lúc làm bài thơ này được 80 tuổi.

5. Câu cuối tác giả chú theo cổ thi : “Bạch bích bất khả vi, Dung dung đa hậu phúc = Chẳng được làm nên công hầu để cầm viên ngọc bích trắng thì thong thả sống lành, để phước lại cho con cháu”.

Dịch thơ :

                        Nhớ cha

Trông mây man mác nhớ thương cha,

Nhìn khúc sông trôi nẫu ruột rà.

Khoa Ngọ trường Hương đăng Ất bảng,

Mùa Hè năm Tuất thượng vân xa.

Quan từ để lộc dành bầy trẻ,

Thọ vắn cho con thêm tuổi già.

Lan quế đời đời hương thắm mãi,

Nếp lành phúc hậu dõi truyền xa.

憶 諸 親 兄 感 作

吾 家 兄 弟 半 韓 桐

一 半 為 儒 一 半 農

棣 榜 蟬 聯 開 甲 乙

松 基 鳩 聚 可 亨 豐

讀 耕 恪 守 家 庭 訓

孝 友 相 敦 睦 恤 風

渺 渺 陟  崗 空 悵 望

憖 遺 季 老 獨 攜 筇

薪 亥 年 秋 (1971)

Phiên âm :

            Ức chư thân huynh cảm tác

Ngô gia huynh đệ bán Hàn đồng,

Nhất bán vi Nho, nhất bán nông.

Đệ bảng thiền liên khai giáp ất,

Tùng cơ cưu tụ khả hanh phong.

Độc canh khác thủ gia đình huấn,

Hiếu hữu tương đôn mục tuất phong.

Diểu diểu trắc cương không trướng vọng,

Ngận di quí lão độc huề cùng.

                             Tân Hợi niên thu (1971)

Dịch nghĩa :

            Cảm tác khi nhớ các anh ruột

Anh em nhà ta bằng nửa số người Hàn thị bát đồng 1

Một nửa làm nhà Nho, một nửa làm nhà nông 2

Thi đỗ liên tiếp mở bảng giáp bảng ất 3

Nền tùng họp lại khá thông suốt và giàu có

Dù đọc sách hay cày ruộng vẫn kính cẩn giữ lời giáo huấn trong gia đình

Hiếu kính cha mẹ, thương yêu anh em, cùng nhắc nhở nhau giữ nếp nhà hòa mục và lân tuất.

Chầm chậm bước lên sườn núi, trông nhớ các anh ta mà lòng buồn man mác4.

Giờ chỉ còn sót lại một mình lão út này chống gậy đứng trông.

                                       Mùa thu năm Tân Hợi (1971)

Chú thích : 1. Hàn đồng: Cây ngô đồng nhà họ Hàn. Hiệp bích sự loại : Hàn Tử Hoa anh em đều làm đến Tể tướng. Trước nhà họ có cây ngô đồng, cho nên người ở Kinh đô ca tụng rằng : “Đồng mộc hàn gia, dĩ biệt Khang công, nhất gia chi trung, hô Tử Hoa vi tam tướng công, trì quốc vi ngũ tướng công = Nhà họ Hàn ngô đồng, lấy riêng Khang công thì trong một nhà Tử Hoa có ba tướng công, nhà Trì Quốc có năm tướng công”. Do đây mà có thành ngữ Hàn thị bát đồng, tức tám anh em tài giỏi của nhà họ Hàn ngô đồng.

2. Ông có bốn anh em : Trưởng là Trần Thiệu Thuật, thứ là Trần Trọng Giải, thứ là Trần Hữu Tuân và út là ông. Trong số, ông Thuật, ông Tuân làm nông, ông Giải và ông (Trần Đình Tân) theo nghiệp Nho. Ông Giải đỗ Tú tài, ông đỗ Cử nhân, nối nghiệp thế khoa.

3. Thi Hương, bảng Giáp yết tên tân khoa cử nhân, bảng Ất yết tên tân khoa Tú tài.

4. Trắc cương : Trèo lên sườn núi. Kinh Thi : Trắc bỉ cao cương, Chiêm vọng huynh hề = Trèo lên sườn núi cao kia, trông ngóng anh ta chừ !

Dịch thơ :

                               Nhớ các anh

Nhà ta huynh đệ nửa Hàn đồng,

Một nửa nhà Nho, một nửa nông.

Bảng bạc nối liền khai Giáp Ất,

Nền thông họp lại khá hanh phong.

Độc canh kính giữ lời gia huấn,

Hiếu hữu luôn gìn nếp Tổ phong.

Thơ thẩn sườn non, trời bát ngát,

Còn mình lão út chống hèo trông !

Thông tin về dòng họ

Con cháu thuộc Trần tộc Mạnh phái Cảnh Vân có thể cung cấp thông tin về cho Ban Quản trị để cập nhật phả hệ, bài viết hay để lưu giữ cho các đời sau.

Đăng ký thành viên

Nhập email liên lạc đăng kí thành viên

Bình luận về bài viết này

Bài viết liên quan

  • Thơ cụ Hà Trì

    Thơ cụ Hà Trì

    憶 家 先 嚴 感 作 悠 悠 瞻 父 白 雲 鄉 曲 曲 江 流 曲 曲 腸 午 歲 秋 圍 登…