TIẾU SỬ ÔNG TRẦN TRỌNG GIẢI
ĐÃI CHIẾU TÚ TÀI
SUNG NGHỊ VIỆN HỘI ĐỒNG QUẢN HẠT TỈNH BÌNH ĐỊNH ĐỜI THỨ 8 – CHI IB

Ông TRẦN TRỌNG GIẢI, huý Hữu Phùng, hiệu Hương Tiều. Ngày Quy y Tam Bảo, ông có Pháp danh Chơn Nguyên, Pháp tự Đạo Lưu, Pháp hiệu Trí Thủy Đại Sư. Ông là Trọng nam của Cố Tú Tài TRẦN HỮU NHAM và Cố bà LÊ THỊ TÂM. Ông sanh vào giờ Ngọ ngày 27 tháng 11 năm Giáp Thân (1884) niên hiệu Kiến Phúc nguyên niên.
Thiếu thời ông rất thông minh và hoạt bát. Ông được khai tâm vào lúc 6 tuổi và do Thân phụ ông chỉ dạy đến năm 11 tuổi (1894). Cùng năm này ông cùng anh ruột là Cố TRẦN THIỆU THUẬT đi học tại thôn Hanh Quang (Tuy Phước). Thầy là ông Huấn Đạo NGUYỄN ĐẠI NHƠN. Sau về lại quê, Thọ giáo với cụ Tú Tài TRẦN NGỘ SANH. Năm 1902 (Quý Dần) ông thọ giáo với giáo thọ BÙI CÔNG tức Á Nguyên BÙI TUYỂN, hiện là quan Giáo Thọ tại trường huyện lỵ Tuy PhướcÔng tư chất thông minh, đỉnh ngộ, học rất giỏi. Chính nhờ việc học rất giỏi này mà thầy ông là Á Nguyên BÙI TUYỂN đã gả thứ nữ là bà BÙI THỊ HÒE cho ông.
Tuy vậy nhưng khoa trường lạo đảo đã đến 3 khóa thi Hương (khoa Bính Ngọ 1906, khoa Kỷ Dậu 1909, khoa Nhâm Tí 1912) ông đều hỏng tam trường.
Tháng 12 năm Đinh Mùi (1907), ông cử hành hôn lễ với thứ nữ của Cụ BÙI TUYỂN, Đốc học bản tỉnh. Bà này quán làng Bá Canh phủ An Nhơn.
Năm 1910 (Duy Tân thứ 4), Hội đồng tỉnh Tòa sát hạch, ông đậu Giáo Sư được bổ về dạy tại trường Cảnh Vân-Năm 1911 (Tân Hợi,DuyTân thứ 5).
Ông ra Huế học tại trường Quốc học Sư phạm. Ông thi đậu Sư phạm và lãnh bằng tốt nghiệp.
Năm Duy Tân thứ 9 (Ất Mão 1915) ông thi Hương đậu Tú Tài. Cũng khoa này, em ruột ông là ông TRẦN ĐÌNH TÂN đậu Cử nhân. Người đương thời đã tặng cho anh em ông một bức hoành phi đề bốn chữ Huynh Đệ Đồng Khoa (lúc này ông đã 32 tuổi).
Năm 1917 (Đinh Tỵ, Khải Định nhị niên) ông được tưởng thưởng Hàn Lâm Viện đãi chiếu.
Sau ngày đậu Tú Tài và được thưởng Hàn Lâm Viện đãi chiếu, ông chăm lo về việc khai hóa xứ sở về mọi mặt: Chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế.
Chính trị: Ông đã từng trúng cử Nghị Viên Hội đồng quản hạt tỉnh Bình Định.
Ngày Bảo Đại ngự giá Nam Tuần và dự lễ khánh thành nhà ga Qui Nhơn, ông đã nhân danh Hội đồng Quản hạt tỉnh, dâng sớ điều trần về việc mở mang xứ sở và chỉ trích Thượng Thư PHẠM QUỲNH. Lúc bấy giờ PHẠM QUỲNH là Quốc gia giáo dục Bộ Thượng thơ kiêm Đổng lý Ngự tiền Văn phòng.
Bản điều trần của ông không được cứu xét, từ đấy ông đâm ra bất như ý và không ngó ngàng gì về chính trị nữa.
Năm 1931, khi “Kinh tế khủng hoảng, cần cứu trợ miền Bắc, ông được ân sư của ông là Tổng đốc trí sự, Biểu Xuyên ĐÀO PHAN DUÂN đề cử tỉnh tòa Bình Định chỉ định ông làm Trưởng Ban Cứu Tế tỉnh. Sau việc này, tỉnh tòa đề nghị Triều đình ban cho ông hàm Hàn Lâm Viện Tu Soạn (lục phẩm) và đặc cách Lãnh Tri huyện Tân An (PleiKu). Ông khẳng khái từ chối vì không thích con đường hoạn lộ. Theo ông, con đường này chỉ được vinh thân, phì gia, chứ trong cảnh Pháp đô hộ, ông không thi thố gì được cho Quốc gia dân tộc.
Văn hóa: Ông xét Quê hương ông, lúc bấy giờ không được tiếp cận nhiều với nền văn hóa Tây Phương nên tháng 12 âm lịch năm Ất Sửu 1925 ông xin phép lập Trần Tộc Tư Trường tại bản thôn thuộc xứ Quán Rạp do đường đệ của ông là TRẦN HỮU SỔ và cháu rể của ông là TRƯƠNG VĂN HIÊN dạy Quốc ngữ và thầy TRẦN QUỲ dạy Hán văn. Học sinh rất đông.Về sau, những người làm việc ở thôn, xã đều xuất thân từ ngôi trường này.
Năm 1931, ông hiến trường này cho Nhà nước và được đổi tên là trường Liên Hương Cảnh Vân (École Intercommunale de Cảnh Vân) do em thúc bá ông là TRẦN HỮU SỔ làm hiệu trưởng (trường này là tiền thân của trường phổ thông cấp II Phước Thành ngày nay).


Chẳng những vậy mà trước ngày thành lập tư trường, ông đã mời các vị thầy giỏi về Hán văn, Pháp văn và Quốc ngữ về tại nhà ông để dạy kèm một số con cháu trong họ, ngoài làng như Thầy tú Hà Tỉnh, Thầy NGUYỄN TẾ MỸ, Thầy PHẠM NGỌC TÀI, Thầy TRẦN QUỲ, Thầy ĐỖ THÚC NGUYÊN, Thầy NGUYỄN ĐÀM, Thầy NGUYỄN CẦM v.v…
Cũng trên bình diện Văn hóa về nghi lễ, tế tự, ông đã hai lần hát tạ tại Đình làng. Lần thứ 1 vào tháng 5 năm 1926 (Bính Tý Bảo Đại Nguyên Niên) và lần thứ 2 vào tháng 6 năm 1936 (Bính Tý Bảo Đại thứ 11) đặc biệt là lần Hát bộ Lạc thành này (1936), ông đã dựa theo lối diễn xuất của cụ ĐÀO TẤN, cho hát vở tuồng Đoạt Đò, tại Hồ Bán Nguyệt trước Đình. Các diễn viên, kẻ Đoạt đò, người cướp đò đều bị ướt như chuột lột. Thật là một lối diễn xuất Hát Bộ Tân kỳ.
Các miếu mạo của các phường trong làng cũng đều do ông xây dựng hoặc tu bổ như miếu Cảnh Tinh, Cảnh Sơn, Vân Tập, Cảnh Sanh, miếu đá, chùa Mục Đồng v.v…
Nơi nào, sau khi xây dựng hoặc tu bổ xong ông đều có đặt các câu đối
hoặc các câu liễn để làm kỷ niệm.
Ông lập Lương đình trên núi Thơm, ngó xuống sông Hà Thanh. Tại đây ông có khắc câu đối: Tâm hữu như thử thủy, Kim hà dụng mãi sơn.
Năm 1939, ngày mùng 1 tháng 4 năm Bảo Đại thứ 14, kiến tạo Hương Sơn Tự, tọa lạc tại phường Vân Tập thôn Cảnh Vân – cạnh liên tỉnh lộ số 6 (Kỷ Mão Bảo Đại thứ 14).
Năm 1942, ông làm lễ khánh thành Chùa Hương Sơn. Trong lễ này ông thỉnh Hòa Thượng Bích Liên Trí Hải, sư huynh ông đứng chứng minh làm chay 3 ngày đêm và Hát Bộ 3 ngày đêm. Cũng cần nhắc lại do Sư huynh ông là ngài BÍCH LIÊN tiến dẫn, ông Quy Y Tam Bảo với Hòa thượng THIÊN ẤN (Quảng Ngãi). Do đó ông có Pháp danh Chơn Nguyên, Pháp tự Đạo Lưu và Pháp hiệu Trí Thủy Đại Sư.
Cuộc Hát bộ này do đoàn tài tử của ông lập ra. Các diễn viên đa phần là con cháu Họ Trần.
Ngoài ra năm Khải Định thứ 10 (Ất Sửu 1925) ông nhận Chùa Vân Nam (tức Chùa Eo Mén) do mẹ con ông NGUYỄN LIÊN thuận giao để cải tạo, tu bổ.
Vì gia tư không sung dũ, ông đã hiểu dụ mẹ con bà Bá Hộ TRẦN THỊ TỐ NGA (ở Ngọc Thạnh) cúng tiền để tu tạo.
Vì vậy, hiện nay ông là Hậu Hiền của Chùa Vân Nam.
Cũng trên lãnh vực Văn hóa này chính ông đã tiếp thu nền văn minh Âu Tây trước tiên và đem về phổ cập cho bà con xóm làng: loại bàn chân tiện, ghế dựa, ghế mây … lúc bấy giờ, nếu có cũng đều do ông sắm trước và phổ biến cho bà con. Là một người hào hoa phong nhã, ông chuyên về thi thơ, liễn đối, văn tế. Ngày nay, những câu liễn còn lại trên các trụ biểu, cổng ngõ tại các Đình, Miếu, Chùa Chiền ở làng Cảnh Vân và các làng lân cận cũng đều một phần lớn do ông sáng tác. Tuy là người khoáng đạt, nhưng ông lại có đặc tài về Văn ai, nhất là loại văn tế. Bài “Văn tế Mẹ” do ông sáng tác trong lúc lão mẫu của ông lâm chung rất được đa số Văn thân ca ngợi. Ân sư của ông là Phó bảng, Hiệp tá đại học sĩ Biểu Xuyên, Tướng công Đào Phan Duân đã từng khen “Nghè Cảnh Vân” là người hào hoa phóng khoáng mà viết “Văn ai” lại hay tuyệt. Tháng 12 Âm lịch năm Bảo Đại Nguyên Niên, ông đắc cử Phó văn chủ và sáu năm sau Chánh văn chủ tại văn Chỉ Phủ Tuy Phước.
Xã Hội: – Ông thường nói: “Vua quan ta vì tinh thần “Tự tôn dân tộc” đã thực hiện chính sách “Bế quan tỏa cảng” do đó, Dân tộc ta ngày nay càng lạc hậu”. Vì vậy, ông chú trọng rất nhiều về công tác xã hội để dần dần đưa địa phương tiếp cận với nền văn minh Âu – Tây. Ông bảo “Ta vì tài hèn, sức kém, không làm được gì cho đất nước, thì ít ra ta cũng cố gắng xây dựng cho làng ta và ít nhiều cho địa phương ta.
Nhận thấy đường sá trong thôn xã chật hẹp, quanh co, thiếu tu bổ, với cương vị Tiên chỉ, ông đã vận động Hào Lý và dân xã góp công của và trích công quỹ sửa sang, mở rộng các đường Tư Ích và đường Liên Hương, xây cống bằng vữa gạch kiên cố để việc giao thông cho tiện lợi, ngoài ra ông chủ trương chỉnh trang hai ngôi chợ Quán Rạp và Cây Xanh để đồng bào có nơi trao đổi và mua bán hàng hóa.
Năm 1931, ông nhận làm Trưởng Ban Trùng tu Văn Miếu tỉnh tại Phù Cát và Miếu Song Trung tại An Nhơn.
Ngày nay, qua nhiều năm tháng mà lầu Bát Giác, nơi Miếu Song Trung còn trơ gan cùng tế nguyệt là do ông chỉ đạo tu bổ lại.
Cùng năm này, ông được đề cử làm Trưởng Ban Cứu Tế tỉnh, ông tổ chức quyên góp và đưa đoàn Hát Bộ được tuyển lựa toàn là Nam Nữ diễn viên có danh tiếng trong tỉnh đi biểu diễn khắp các Phủ huyện để cứu trợ cho Miền Bắc trong những năm “Kinh tế khủng hoảng”. Do việc này mà ông được Tỉnh, Tòa Bình Định đề nghị tưởng thưởng Hàn Lâm Viện tu soạn (Lục phẩm) ông không muốn nhận hư danh này nên tìm cách khéo léo từ chối nhường lại cho người phụ tá của ông là MẠC NHƯ TÒNG. Vì ông MẠC NHƯ TÒNG không có Khoa bảng và chưa tưởng thưởng, nên Triều Đình chỉ phong cho ông ta Hàn Lâm Viện biên tu (Thất phẩm).
Hưởng ứng phong trào truyền bá Quốc ngữ ông đã đưa đoàn Hát Bộ tài tử do ông xây dựng đi biểu diễn nhiều nơi để gây quỹ cho phong trào này.
Kinh tế: Ông đã cùng các anh em của ông như Cố TRẦN THIỆU THUẬT, TRẦN HỮU TUÂN, TRẦN PHỈ, TRẦN ĐÌNH TÂN xây một cái cừ nhỏ giữ đê tại xứ Động Đình (Cảnh Vân) và đào môt đoạn sông Hà Thanh để trừ Thủy hoạ.
Năm 44 tuổi Bảo Đại Đệ Nhị Niên (Đinh Mão 1927), ông đã hiểu dụ ba thôn Điền Hộ (Cảnh Vân, Tăng Vinh, An Cư) bồi đập Ma Ha bên trên đập cũ một khoảng độ 40m. Lúc ấy có đôi kẻ cản trở, nhưng rồi cũng hoàn thành tốt đẹp.
Năm Khải Định thứ 5 (Canh Thìn 1920) ông lên Quang Hiển, vỡ ruộng ý muốn thành lập một trang trại nơi đây, ngày nay, tại Hiển Đông (Quang Hiển) có một vùng ruộng mà người nơi ấy còn gọi là vùng ruộng ông Nghè Cảnh Vân. Cùng năm này, ông cất tại Quang Hiển một tòa nhà đặt tên là Lạc Nghiệp Đường, giao cho hai em họ là TRẦN QUÝ, TRẦN NGHIỄM cư trú để sanh lý về nông thương. Tháng 12 năm Bính Dần 1926, ông triệt hạ “Lạc Nghiệp Đường” đem về cất tại Quán Rạp (Cảnh Vân) và đổi tên là Cảnh Phước Đường giao cho Đường Đệ TRẦN HỮU SỔ và đường điệt TRẦN CẠNH tham hiệp buôn bán, (khai trương vào ngày 16/11 Âm lịch 1927).
Khoảng 1931, do Ân Sư của ông là Tổng Đốc Trí Sự, Biểu Xuyên ĐÀO PHAN DUÂN đề xướng, ông và một số trong sĩ lâm Bình Định tham gia tổ chức Phước An Đường tại Qui Nhơn. Phước An Thương Hội này do ông Cử nhân LÊ DOÃN SẰN làm hội trưởng và ông làm phó đặc trách về vận tải (xe thơ chạy tuyến đường Qui Nhơn – Pleiku) vì đa số là nhà nho, không thông thạo về buôn bán, nên Phước An Thương Hội bị lỗ nặng khoảng trên dưới một vạn đồng (thời bấy giờ một vạn đồng là rất to vì đang khi kinh tế khủng hoảng một vuông lúa chỉ sáu hào thôi). Ông cử LÊ DOÃN SẰN phải chịu trách nhiệm bồi hoàn (ngành vận tải do ông đảm nhiệm thì không bị lỗ lã).
Vì tình bằng hữu, ông thấy cần phải chia sẽ với ông cử SẰN nên đã vui vẻ chịu bồi giúp 3000 đồng. Để thực hiện nghĩa cử này, ông phải bán cả ruộng cấy tại quê nhà.
Nhân việc này, ông có làm bài thơ Bát Cú.
Cổ đông ai có biết cho chăng?
Buôn bán như vầy hiếm có ăn
Xão quyệt đã kinh vài chú Cẩn
Vụng về lại gặp một ông Sằn
Kềnh hay lên xuống la tam tổ
Đẹt cứ đi về nói bá nhăn
Sổ sách giao mình anh mũi nhọn
Cổ đông ai có biết cho chăng?.
(Kềnh: Cụ Biểu Xuyên, Đẹt: Tú tài Lâm Thúc Mậu, Anh mũi nhọn: Mạc Như Tòng).
Khoảng năm 1935, nhân đi thăm Bào đệ của ông hiện làm Tri huyện Hoài Ân, ông mua một số dừa giống chở về Cảnh Vân hiểu dụ bà con, dòng họ trồng dừa. Nhiều nông hộ hưởng ứng.
Ngày nay, tại Cảnh Vân và một số làng lân cận có những vườn dừa đẹp và có lợi tức là do ông đề xướng.
Nói chung, cuộc đời của ông rất “đa dạng”. Trên mọi lĩnh vực ông đều có tham gia hoạt động và còn để lại nhiều kỳ tích cho địa phương.
Đặc biệt, ông rất chú trọng về việc phụng sự Tổ Tiên và xiển dương dòng họ.
Ngay sau khi đậu Tú Tài năm Ất Mão (1915), ông đã cùng anh em ông là Quan Viên phụ TRẦN THIỆU THUẬT, Hương Lễ TRẦN HỮU TUÂN, Cử nhân TRẦN ĐÌNH TÂN và một số Tộc thuộc có uy tín đề xướng việc thành lập Đại tôn tự đường tại Sở Vân Hội thuộc bản thôn. Việc làm này được đa số bà con, họ hàng hưởng ứng như các cụ TRẦN DỊCH (tục gọi là ông Háo), cụ TRẦN HỮU ĐẮC (tục gọi là ông Hương Lễ Kỷ) cụ TRẦN HỮU HUY (tục gọi là ông Bồi Nhứt) cụ TRẦN HỮU CHỈ (tục gọi là ông Bồi Nhì) thuộc đời thứ 7, cụ TRẦN VÕ (tục gọi là cụ Xã Tiễu) cụ TRẦN CƯƠNG (tục gọi là ông Hương Hào Trĩ) đời thứ 8 v.v… hưởng ứng tham gia vận động, cổ võ và thực hiện.
Chính ông, ngoài việc cúng tiền túc, còn cúng cả một nước gỗ ba gian để cất Tự đường. Nước gỗ này, lẽ ra ông giành để cất nhà cho chính mình nhưng vì Tộc họ, ông đã vui vẻ hiến cúng để xây dựng Tự sở mà không đòi hỏi một điều gì cả.
Năm Khải Định Nguyên Niên Bính Thìn 1916, sau khi xây cất xong và được phép của Chính quyền lúc bất giờ, dòng họ đã tổ chức lễ Lạc Thành có hát tạ. Bà con, tộc thuộc đều hoan hỉ.
Ông đã đề xướng tiến hành việc lập Phổ hệ từ Thỉ Tổ đến đời thứ 9. Việc tập trung tư liệu, hệ thống hóa Gia Phả phải tốn trên 8 năm và do Đường Đệ của ông là ông TRẦN ĐÌNH ĐÔN chấp bút.
Chẳng những ông có đầu óc Xiển Dương tôn tộc, mến mộ bà con mà còn rất yêu thương anh em con cháu.
Việc nuôi dạy và xây dựng cả công danh sự nghiệp cho các đường đệ của ông như TRẦN HỮU SỔ, TRẦN QUÝ, TRẦN NGHIỄM, việc đưa các cháu TRẦN QUÝ (con cụ TRẦN VÕ) TRẦN ĐÌNH PHÔ (Con Cụ TRẦN THIỆU THUẬT) TRẦN CANH (con cụ TRẦN PHỈ) theo em ông là Cử nhân TRẦN ĐÌNH TÂN ra Huế để du học hòng tiếp cận với nền văn minh Âu – Tây và việc xuất tiền của gia tộc cấp bổng cho TRẦN TRỌNG DƯ (con TRẦN PHỈ) đã chứng tỏ ông lo cho tương lai Tộc họ và chú trọng đến hậu duệ của dòng giống.
Theo truyền khẩu, Thỉ Tổ Họ Trần Cảnh Vân là TRẦN HỮU ĐỨC đã cùng hai em trai và một người con (TRẦN HỮU CHÂU) vào lập nghiệp tại đây. Sau, có lẻ vì tình thế bắt buộc, hai người em của Thỉ Tổ lại rời anh vào Nam (vùng đất Phú Yên, Khánh Hòa bây giờ). Có thể vì sinh kế thúc ép và vì giao thông bất tiện nên từ đây mất hẳn liên lạc. Đến đời ông (đời thứ 8), ông mới quyết định tìm lại hậu duệ của hai vị này. Trong “Hương Tiều lịch sử” chính ông có ghi:
“Năm 43 tuổi, Bảo Đại Nguyên Niên, Bính Dần 1926, ta cùng Gia huynh TRẦN THIỆU THUẬT đi vào Phú Yên, đến Mỹ Á, tìm một chi nhánh Họ TRẦN ở đây. Tại đây ta có gặp ông Chủ Họ Trần và tìm được phái thứ hai. Thật là một việc mừng”. Cũng trong Hương Tiều lịch sử tại một đoạn khác ông có ghi:
“Thượng tuần tháng 11 (Đinh Mão 1927, Bán Đại nhị niên) anh ta TRẦN THIỆU THUẬT và ta diện tiếp hai cha con ông Chủ Mỹ Á ra thăm, ở lại đây một ngày một đêm. Ta vẫn chưa tìm được Chi phái thứ 3. Sau này các con cháu ta tiếp tục, nên thận trọng (nguyên văn: Ngô điệt nhi đa thận chi)”.
Tóm Lại ông TRẦN TRỌNG GIẢI là một người phong lưu, khoáng hoạt, ít nhiều phóng túng, không thích trong vòng cương tỏa, không thiết quan trường, nhưng rất nghiêm túc và rất có uy đức.
Ổng sống cuộc đời thanh bạch, thích thi ca hát xướng: đặc biệt ông hát bộ rất hay – suốt đời ưng làm việc thiện, việc nghĩa không màng tư lợi. Bình sinh, ông sống rất có “Hậu”, chú tâm rất nhiều về việc xã hội, vì thế hệ ngày mai cho địa phương.
Ông rất mến mộ dòng họ, bà con, con cháu, thường lui tới thăm viếng hỏi han.
Ông lưu tâm đến việc giáo dục, động viên, rèn luyện, phát huy tài năng của con cháu trong họ.
Đặc biệt, ông là người con hiếu thuận, yêu kính phụng sự Tổ Tiên.
– Là con, cháu, giữ vẹn lòng kính đối với các bậc Tôn trưởng.
– Là người anh biết nhường nhịn, nuôi dạy, nâng đỡ em út thành người.
– Là người chồng biết tôn trọng người khâm chẩm, theo Thuyết “Sơ
kính như tân”.
– Là người cha rất mực thương yêu con cái, có trách nhiệm cao trong việc giáo dưỡng.
– Là người thầy hết lòng với sĩ tử.
– Là người trò rất có nghĩa với Tôn sư.
– Là người bạn chí tình, hào hiệp, không vị kỷ.
Ngoài ra ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ sĩ. Ông đã để lại cho đời sau nhiều thơ văn, liễn đối, đặc biệt là loại văn tế.
Ông cũng là một nhà hoạt động kinh tế, xã hội như đắp đập, bồi đê, làm cừ, đề xướng tu tạo đền chùa, miếu võ, công môn văn miếu, văn chỉ, đền Song Trung v.v…. Ông lại tổ chức hội thương nghĩa thương, hoạt động cứu tế, tổ chức đoàn hát bộ đi các Phủ huyện quyên góp, giúp nạn lụt Bắc kỳ, tham gia truyền bá Quốc ngữ.
Cuộc đời của ông rất đa dạng, không thể ghi đầy đủ được. Ông mất vào mùng 10 tháng 10 năm Bính Tuất (1946).
Ông rất xứng đáng là một yếu nhân của Họ Trần Cảnh Vân vào tiền bán thế kỷ 20.
Sy nhi TRẦN BÙI THAO
Kính cẩn chấp bút

Bình luận về bài viết này