Chim có tổ, người có tông.
Cây có cội, nước có nguồn.
Những câu tục ngữ từ nghìn xưa truyền lại mãi mãi là chân lý và đạo lý của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Nước có sử, gia tộc có phả
Sử của nước ghi lại sự tích xây dựng, bảo vệ đất nước, cội nguồn và sự phát triển qua các thế hệ, những sự kiện trọng đại, những bước thăng trầm đã diễn ra theo dòng thời gian kể từ khi dựng nước cho đến về sau.
Gia phả giúp cho con cháu biết rõ nguồn gốc, biết họ hàng trên dưới, từ xa đến gần, từ thân đến sơ, biết tông chi tộc họ nhà mình, ghi lại công đức tổ tiên, thuật lại quá trình sinh cơ lập nghiệp, xây dựng dòng họ, nêu những gương sáng cho các đời sau.
Con cháu chúng ta ngày nay có giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của tiền nhân, không những củng cố và tăng cường mối quan hệ đoàn kết thân ái trong gia tộc.
Người sinh ra không biết đến cội nguồn, không rõ công ơn tiên tổ, ông bà, cha mẹ, chỉ biết riêng mình, tiểu gia đình mình, bo bo với quyền lợi hẹp hòi, ích kỷ, khó có thể là người con, người cháu hiếu thuận, người cha, người mẹ, người anh, người em, người chồng, người vợ xứng đáng, làm sao có được quan hệ tốt đối với mọi người trong tộc họ và nói rộng ra đoàn kết thân ái đối với mọi người trong xã hội.
Xuất phát từ mục đích, ý nghĩa trên, ông cha chúng ta đã lập ra tông đồ, phổ hệ – một hình thức gia phả ở trình độ đơn giản – ghi lại có hệ thống họ tên của mọi người trong họ, từ Thỉ Tổ đến đời thứ 10, theo từng phái, từng chi bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ trên vải hiện treo trong Chánh điện của Trần Tộc Đại Tôn Từ Đường chúng ta.
Chúng ta được biết theo lời ông cha lưu truyền là Từ Đường họ chúng ta do dòng đích kế thế thừa tự, đã đôi lần bị hỏa hoạn, không rõ gia phả từ trên có hay không, bị thiêu hủy hay thất lạc, cho nên sau khi Trần tộc Đại tôn Từ đường được xây dựng (1916 – Khải Định, Bình Thìn) các bậc cha ông đời thứ 7 và đời thứ 8, mới sưu tầm khai thác từ phần thơ của các đời trước ghi chép và hệ thống lại, kết hợp với sự điều tra, nắm danh sách từng chi phái làm thành tông đồ phổ hệ đến đời thứ 10 và cũng chỉ ghi lại con cháu các đời kế tiếp của Thỉ Tổ Đại Lang TRẦN HỮU ĐỨC.
Việc viết lịch sử dòng họ chúng ta còn nhiều vấn đề phải thực hiện. Việc tìm nhận đủ phái nhì (Mỹ Á) và phái 3 (Phú Hiệp) đã tiến một bước quan trọng, vẫn phải còn tiếp tục đi sâu xác minh một cách hoàn chỉnh (sẽ nói rõ ở mục tìm họ hàng). Khó khăn của chúng ta là cứ liệu thành văn hầu như không có ngoài bảng phổ hệ ghi Họ Tên tộc nhân theo các Phái, các Đời với trình độ đơn giản.
Việc xây dựng phổ hệ do thế hệ trước chúng ta, chỉ hoàn chỉnh đến đời thứ 8. Thế hệ chúng ta chỉ hoàn chỉnh đến đời thứ 9. Ban tu phổ đang tiến hành điều tra đến đời thứ 10, đời thứ 11 và đời thứ 12, song chỉ để làm tư liệu, chưa có thể đưa vào phổ hệ một cách đầy đủ vì đời thứ 9 vẫn còn người ở lứa tuổi vị thành niên và một số người chưa có gia thất. Đời thứ 10 chưa ổn định được, thì đời thứ 11,12 còn lâu mới được đưa vào hệ thống chung cả họ.
Do vậy việc tu chỉnh bổ sung phổ hệ nên đặt ra liên tục theo từng thế hệ, có nghĩa là cách khoảng 25 năm đến 30 năm mới tiến hành một đợt.
Đây là một việc làm công phu, kiên trì đòi hỏi trình độ, nhiệt tình và trách nhiệm cao.
Mong rằng con cháu chúng ta, nhất là những người có học vấn, có kiến thức hãy trực tiếp vào việc sưu tầm, khai thác, hệ thống hóa tư liệu, chấp bút soạn thảo bổ sung tộc phả, thể hiện qua nhiều hình thức mà điều kiện xã hội văn minh cho phép như ghi âm, chụp ảnh, băng hình, v.v…
Cầu Tổ tiên, ông bà gia hộ họ hàng chúng ta, để dòng họ chúng ta được miên viễn và phát triển theo không gian và thời gian.
Xin nhiệt liệt biểu dương tinh thần của Ban tu phổ và dâng công đức này lên Tổ tiên chứng giám.
Văn Sơn TRẦN BÙI THAO
Chánh chủ tự TRẦN TỘC Đại Tôn Từ Đường
Nhiệm kỳ 6

Bình luận về bài viết này