TIẾU SỬ ÔNG TRẦN ĐÌNH TÂN
ĐỜI THỨ 8- CHI IB
ẤT MÃO KHOA CỬ NHÂN
Nguyên Thương Tá tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận
Văn phát quan của dòng họ

Ông TRẦN HỮU LIỆP tự ĐÌNH TÂN, tự hiệu LỮ TIÊN, biệt hiệu là HÀ TRÌ (thường gọi là cụ Thương), sinh ngày 19 -10 Quý Tỵ tức ngày 19 -11 – 1893 tại nhà (nay là Hà Trì Tư Đệ* ở xóm Vân Tập làng Cảnh Vân. Tổng Dương An phủ Tuy Phuớc, mất ngày 4 – 10 Kỷ Mùi (23 – 11 – 1979) tại nhà ở số 250 Phan Bội Châu Qui Nhơn, hưởng thọ 87 tuổi. Ngày giỗ là ngày 3 -10 hằng năm âm lịch. Ông thuộc đời thứ 8, con của đệ thất Đại Tổ TRẦN HỮU NHAM, tự Trinh và Quan viên Mẫu LÊ THỊ TÂM. Thân phụ ông là Tú Tài TRẦN HỮU NHAM nguyên là Tán tương quân vụ thuộc Hương Sơn quân thứ của Mai Xuân Thưởng lãnh tụ phong trào Văn Thân chống Pháp ở Bình Định.
Thuở nhỏ ông thông minh học giỏi, 17 tuổi thi đỗ học sinh, 23 tuổi cùng đi thi Hương với Bào Huynh là TRẦN TRỌNG GIẢI, huynh đệ đồng khoa Ất Mão (1915) niên hiệu Duy Tân thứ 9. Anh ông đỗ Tú Tài ông đỗ Cử Nhân. Cuối năm 1919, sau khi chánh thất BÙI THỊ TƯ thất lộc, ông được mông bổ hành tẩu Bộ Học tại Huế. Khi triều đình giảm Bộ Học ông được hoán bổ Hậu bổ tỉnh Bình Thuận.
Trong thời gian này ông được hai lần quyền Tri Phủ Tuy Phong và Hàm Thuận rồi được thăng lên Kinh Lịch
Năm 1921, ông kết duyên cùng trưởng nữ của cụ Tri Phủ Đào Trọng Trấp (quan lộc Vinh Thạnh, cháu gọi cụ Đào Tấn là chú ruột) là bà Đào Thị Biêm tự Ngọc Mai hiệu Dược Thạch. Bà chung sống với ông ở Huế và Bình Thuận được bảy lần sinh (5 lần tiểu sản và tảo vong, còn được hai con trưởng thành là TRẦN THỊ NGỌC LAN và TRẦN ĐÌNH PHAN).
Năm 1930 bà thất lộc tại Bình Thuận, đến năm 1933 cải táng về quê ở núi Thơm. Cùng năm ấy ông được thăng bổ Tri Huyện Hoài Ân Bình Định và kết duyên cùng bà NGUYỄN THỊ TIẾP. Năm 1941, hoán bổ Tri Huyện Đồng Xuân, Phú Yên. Cuối 1942 thăng bổ Tri Phủ Mộ Đức, Quảng Ngãi.
Cuối năm 1943 hoán bổ Tri Phủ Hoài Nhơn, Bình Định. Cuối năm 1944, thăng bổ Thương Tá tỉnh vụ Ninh Thuận (Hàm ngang Án sát).
Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, sau 1 tháng giao công việc hành chánh, tư pháp và quản lý kho bạc tỉnh Ninh Thuận, ông trở về quê hương.
Lần lượt ông tham gia hội trưởng hội phụ lão, hội trưởng Hội Liên Việt Xã, trưởng ban vận động quỹ kháng chiến huyện, Hội trưởng Hội Liên Việt Huyện, ủy viên UBHC huyện Tuy Phước. Đầu năm 1950, mắt ông bị làn ngày càng nhiều không trông được rõ, đi đâu phải có người dắt.
Năm 1955 khi hòa bình lập lại ông vào bệnh viện Sài Gòn mổ lột màng mây mắt được sáng lại. Ông tham gia Hội Khổng học, được cử làm hội trưởng tỉnh hội.
Năm 1959 theo sự sắp xếp của chính quyền đương thời ông được trúng cử Dân biểu Nghị viên với tư cách nhân sĩ tại đơn vị bầu cử Hoài Ân.
Cuối năm 1962, mãn nhiệm kỳ dân biểu, ông được tôn làm Hội trưởng Hội Khổng học Bình Định.
Bản chất ông là người hiền lành, thật thà, giàu lòng từ thiện, rất gắn bó với quê hương dòng họ, sống cần kiệm siêng năng mực thước, là tấm gương điều độ trong sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Ông cũng là người con hiếu thuận, rất kính yêu ông bà cha mẹ, sống với anh chị em rất hòa thuận, rất mực thương yêu đùm bọc con cháu nhiệt tình, giúp đỡ người nghèo khó. Với họ hàng bạn bè, kẻ ăn người ở trong nhà được mọi người mến phục. Ông là Chánh Chủ tự đời thứ 2 của Trần Tộc Đại tôn tự đường vào những năm 1948 – 1952.

Tinh thần hiếu học đầu óc nghiên cứu của ông được thể hiện suốt cả cuộc đời. Ông chỉ dừng đọc sách, nghiên cứu khi lâm bệnh trước ngày tạ thế nửa tháng. Ông đã đặt nhiều câu đối, làm nhiều thơ văn và sưu tầm hợp tuyển đối liễn, thơ văn của nhiều danh sĩ, nhiều chí sĩ ái quốc như Chu Văn An, Phan Đình Phùng, Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Phạm Hàm, Đào Tấn, Đào Phan Duân… Thơ văn của ông do thời cuộc, do di chuyển nhiều nơi, do không chú ý lưu trữ, do thiếu điều kiện bảo tồn nên bị tản mác và thất lạc nhiều, hiện chỉ còn tập Hà Trì Đối Liên, Hà Trì Di Cảo trong đó ngoài những câu đối, còn một số bài Văn tế, thơ Đường Luật và thơ Nôm. Ngoài ra cuộc đời ông kể từ khi xuất sĩ cũng gắn liền với sự nghiệp nghiên cứu y học cổ truyền. Lời tựa sách thuốc của ông viết như sau:
“Tôi từ năm 1919, Khải Định thứ 4 được bổ làm Hành Tẩu ở Bộ Học. nhân việc bộ lúc bấy giờ được giảm nên tôi bắt đầu nghiên cứu về Đông y và trong khoảng làm quan ở các tỉnh quận hễ khi nào rảnh việc thì xem các sách thuốc để nghiên cứu y lý, mạch lý và dược tính, khảo cứu biên tâp những phương thuốc Bắc hoặc Nam gia truyền đã có hiệu nghiệm, thâu góp biên lại để khi về hưu ở nhà kế tiếp nghiên cứu thêm. Đến 1949 thì bệnh nội chướng hai con mắt của tôi càng nặng thêm lên đến nỗi không thấy được nữa nên sự biên tập làm sách thuốc đành phải gián đoạn. Đến năm 1955 tôi vào Sài Gòn mổ chữa hai con mắt được thấy rõ ràng như thường tôi rất mừng. Khi về tới nhà tôi lại tiếp tục kê cứu biên tập nhiều hơn nữa. Đến năm 1965 thì sự biên tập đã tạm xong…”. Tuy vậy từ 1965 trở đi ông vẫn tiếp tục nghiên cứu thu thập bổ sung và đến năm 1978 mới hoàn chỉnh.
Ông đã nói ý nghĩa cao đẹp và công phu biên tập bộ sách như sau:
“Tôi tự nghĩ rằng bấy lâu nay khảo cứu biên tập làm ra một sách toàn bằng chữ Hán cả e sau này con cháu không có người thông hiểu chữ Hán mà nhận thức sử dụng được thì cũng hoài công vô ích nên tôi tự dịch ra quốc ngữ, chia nhiều môn, loại, quyển thứ và tầm thập những bài ca bằng quốc âm của các bậc hiền triết dẫn về mạch lý, lục phủ ngũ tạng cũng như dược tánh…. Bài nào chưa diễn thì tôi cũng diễn ra cho đủ mà biên vào đầu quyển.
Nói tóm lại nội dung quyển sách này (gồm 7 quyển ) là khảo cứu trong nhiều bộ sách thuốc có giá trị và thâu góp những phương thuốc gia truyền biên theo môn loại, nhiều phương thuốc chỉ dùng những vị hiện có, dễ kiếm, thường dùng, chứ không dùng những viễn vị khó kiếm, phần nhiều dùng những cây cỏ ở ngoài vườn nhà, rừng núi, dưới ruộng mà trị bệnh, đã ít tốn tiền, lại dễ kiếm mà có nhiều công hiệu rất tiện lợi cho những nhà nghèo khổ vô cùng.
Muốn dễ biết hiệu nghiệm bộ sách này, từ năm 1947 tôi đã bắt đầu cho toa thuốc cho các người bệnh, bất kỳ đàn ông, đàn bà, con nít, có bệnh gì tới xin thì hỏi chứng kỹ càng rồi cho toa không lấy tiền để làm phước.
Bệnh nào nặng tôi mới đi thăm mạch, lịch trị thấy có hiệu nghiệm nhiều, có nhiều phương hay đặc biệt không kể hết được, lần lần họ hàng biết tin dùng đến xin toa cũng nhiều.
“Tôi làm bộ sách này khảo cứu biên tập diễn dịch nó trên 50 năm, thảo ra sửa lại diễn viết rất nhiều công phu, mục đích để điều trị trong gia đình giúp cho bà con, con cháu có bệnh và để sau này coi theo đó mà gia dụng vậy thôi…“.
Tuy đi làm quan xa quê nhà nhưng ông vẫn luôn luôn gắn bó với nơi chôn nhau cắt rún, quan tâm góp phần xây dựng quê hương dòng họ. Ông rất nhiệt tình đề xuất ý kiến, khởi xướng và nồng nhiệt hưởng ứng hợp tác đóng góp ý kiến về trí lực cùng các anh ruột của mình, nhất là ông anh ruột đồng khoa trong việc xây dựng Trần Tộc Đại Tôn Tự Đường, xây dựng trường học, truyền bá Quốc ngữ, mở mang trí thức cho con em trong làng trong vùng, xây dựng, tu tạo đình miếu, chùa chiền, chợ búa trong việc kiến thiết làng xóm quê hương. Ông đã đóng góp phần lớn làm rạng rỡ Tổ Tiên dòng họ quê hương mình, thật đáng là niềm tự hào của bà con, con cháu.
Thân tử Quế điện TRẦN ĐÌNH PHAN
Kính ghi
*Hà Trì tư đệ được Trưởng nam của Cụ quyết định đổi là Hà Trì Từ đường, nay do đích tôn của Cụ là Trần Hà Thanh (CCT khóa 8) coi giữ. Là nơi để thờ cúng Cụ và con cháu trực hệ.

Bình luận về bài viết này