Sau khi xây dựng xong Đại Tôn Tự Đường vào năm Bính Thìn 1916 các bậc tôn trưởng và chức sắc trong họ quyết định hằng năm, ngoài những ngày Sóc, Vọng, lại có hai ngày lễ lớn là ngày tảo mộ (trước định vào ngày 27/12 AL) và ngày Tế Hiệp 12 tháng giêng AL.
Theo truyền khẩu thì từ Thỉ Tổ đến nay, họ Trần Cảnh Vân thuộc hệ An Sinh Vương Trần Liễu. Cánh An Sinh Vương thì dù phải tứ tán, định cư ở đâu chăng nữa cũng lấy ngày 12 tháng giêng hàng năm làm lễ Tế Hiệp để dễ nhìn nhận nhau là người đồng phái.
Đúng vậy, họ Trần chúng ta (Mạnh Phái Cảnh Vân, Trọng Phái Long Thủy, Quí Phái Phú Hiệp) dù đã thất lạc gần hai thế kỷ, và nhờ cùng nhớ ngày Tế Hiệp Tổ Tiên là ngày 12 tháng giêng, nên ngày nay đã nhìn nhận được nhau và cùng nhau phụng sự Ông Bà và sum hiệp họ hàng.
Nhất là, sau ngày lập được Đại Tôn Tự Đường thì ngày lễ 12/1 hàng năm lại càng linh đình và đầy đủ nghi thức hơn.
Và, theo cách nói của họ hàng lúc bấy giờ, để tạ ơn Thánh Thần và Tiên Liệt. Họ ta đặt thành lệ là cứ 3 năm lại hát bộ một lần.
Lệ hát bộ này được gọi là lễ hát tạ.
Năm nào, chiều 11 tháng giêng. Ban Quản Trị Tự Đường cùng hội họp đầy đủ để chuẩn bị việc tế tự.
Lá cờ vuông màu đỏ riềng vàng có thêu 1 chữ Trần Tộc Tự Đường đã phất phới trên cột cờ ở lưng con voi phục trước cổng chính. Hai hàng cờ “đuôi nheo” cũng đã cắm sẵn từ hôm trước từ ngõ vào sân cũng đang phần phật trước chính điện.
Tinh mơ ngày 12 tháng giêng, một hồi trống vang dội để tập trung họ hàng với y phục chỉnh tề lũ lượt kéo nhau về dự lễ.
Đúng 7 giờ sáng (giờ Thìn) giờ hành lễ bắt đầu. Bốn “học trò Gia Lễ” mũ áo xiêm y theo cổ tục – cung tay trước trán, ngân nga xướng lên những câu chữ nho hướng dẫn vị Chánh tế và các vị Bồi tế hành lễ cho khuôn rập đúng theo nghi thức cổ truyền.
Sau câu xướng “Khí chinh cổ” ba hồi chiêng trống dõng dạc vang lên. Mọi người đều vòng tay trước ngực hướng về Chính diện.
Vị Chánh tế và các vị Bồi tế đã tựu vị trước các bàn thờ khói hương nghi ngút.
(Vị Chánh tế thường là ông Chánh Chủ Tự; nếu vì một lý do gì ông bận việc khác thì cử vị Nhiếp tế thay thế).
Nhã nhạc vang lên từng hồi làm cho buổi lễ thêm phần trang nghiêm và sinh động.
Sau hai tuần rượu lễ, viên Tộc lễ quì xuống bên cạnh vị Chánh Chủ Tự để đọc Văn tế. Tiếng ngân nga từng chập điểm thêm tiếng trống như con chấm câu và ngắt đoạn giữa cái im lặng phăng phắc của buổi lễ.
Cảnh hát bộ chức mừng Ông Bà vào năm Tân Mùi
Họ hàng ai nấy đều đứng thẳng, chấp tay ngẩng mặt về Bàn thờ Tổ Tiên với trầm hương khói tỏa. Không gian như ngừng lại chỉ còn vang lên giọng đọc văn trầm bổng của Viên Tộc lễ.
Anh linh của Tổ Tiên, ông bà như phảng phất đâu đây để hộ trì cho cháu con, dòng họ.
Bà con, họ hàng. Tuần tự theo thứ bậc trong họ vào lễ bái trước bàn thờ Tổ. Năm nào có hát bộ, thì buổi chiều hôm ấy hát “Thứ lễ” chúc mừng Ông Bà tại sân trước Chánh điện và đến tối thì diễn suốt đêm ở rạp hát dựng lên tại khoảnh đất trước ngõ chính để bà con họ hàng đồng bào địa phương thưởng thức. Thật là một Lễ hội tưng bừng náo nhiệt chẳng những cho dòng họ mà cho cả địa phương.
Mấy năm gần đây vì điều kiện tài chánh không cho phép nên phải đình lại một thời gian. Bắt đầu từ năm 1991 đã được lập lại như xưa.
Cũng cần nói thêm là vào khoảng thập niên 1960, khi ông TRẦN BÙI THAO. Giáo sư Tư thục, dạy ở trường Trung học Tân Bình Qui Nhơn có tiếp xúc với ông TRẦN QUANG KHẢO, đồng nghiệp của ông.
Trong lúc đàm đạo trước giờ vào dạy, ông TRẦN QUANG KHẢO vui miệng bảo “Tôi với Thầy cùng là họ Trần, cho dù tôi người Bắc, thầy người Trung, có lẻ chúng ta là họ hàng, bà con với nhau.
Ông TRẦN BÙI THAO, nay là Chánh Chủ Tự Đại Tôn Tự Đường cũng tươi cười đáp: “Thì 500 năm về trước, chắc chắn chúng ta là bà con rồi”.
Câu nói vui miệng của hai người thì ra đã là sự thật.
Khoảng thập niên 1980. khi tham khảo Gia phả họ Trần ở Phượng Lâu, Kim Động, Hưng Yên Bắc phần Việt Nam, mới từ Bắc vào Nam sau Hiệp định Genève (1954), Ông TRẦN BÙI THAO mới biết Họ này cũng thuộc Phái TRẦN LIỄU (An Sinh Vương) và cùng lấy ngày 12/1 Âm lịch làm ngày Hiệp tế hàng năm.
Vị Trưởng Phái Họ Trần này hiện ở số nhà 277 Đường Gia Long (nay là 503 Trần Hưng Đạo – Qui Nhơn).
Vị này tên là TRẦN DOÃN PHẢ, anh ruột của Giáo sư TRẦN QUANG KHẢO (hiện nay ông TRẦN QUANG KHẢO ở Paris, Pháp và là bạn học thân thiết từ thời Trung học của Tiến sĩ TRẦN ĐÌNH SƠN).
Ông TRẦN DOÃN PHẢ có đưa ông TRẦN BÙI THAO lên Chánh điện (ở tầng lầu hai của nhà này) để bái yết Ông Bà. Tại đây ông TRẦN BÙI THAO có thấy một cây Gia phả vẽ trên vải có cắt đi một nhánh và có ghi: Nhánh này vào Nam, chưa tìm lại được.
Ông TRẦN DOÃN PHẢ giải thích: Vào cuối thế kỷ 14 (khoảng 1398 – 1400). Họ Hồ cướp ngôi nhà Trần và đã có lần giết đến 370 người tôn thất Nhà Trần. Để khỏi nạn diệt vong, nhánh An Sinh Vương TRẦN LIỄU đi lánh nạn Hồ, mới chia làm 2 chi, một chi ra Bắc vùng Cao Lạng một chi vào Nam, và thống nhất với nhau là chọn ngày 12 tháng giêng hàng năm làm ngày Hiệp tế để sau này dễ nhìn nhận lại nhau.
Ngày Bình Định Vương Lê Lợi diệt được Quân Minh. TRẦN CAO lên ngôi Tôn, thì chỉ ra Bắc vừa đi đến vùng Kinh Bắc lại trở về quê cũ. Còn nhánh Nam tiến thì có lẽ Miền Nam đất rộng, người thưa dễ tìm cách sinh sống nên tiến dần vào Nam.
Tuy vậy, vì cứ liệu chưa đầy đủ, họ ta cũng chưa dám khẳng định là đồng chi phái.
Dù sao, thì cũng là bước đầu để Họ chúng ta tìm về nguồn gốc.
Để chấm dứt bài này, chúng ta xin mạn phép dùng mấy câu mở đầu của bài thơ lục bát đăng trong Gia phả Họ Trần (Phượng Lâu, Bắc phần) ở trang 29/4 để chúng ta chiêm nghiệm và tìm hiểu thêm về dòng họ:
Phả truyền mười hai tháng Giêng
Dòng họ ghi nhớ như in trong lòng
Chính ngày kỷ niệm Tổ Tông
Trần Tộc khởi nghiệp nối dòng là đây.
(Trần Xuân Vịnh – Lộc Trí Phòng)
BAN TU PHỔ

Bình luận về bài viết này